Các phương pháp vỗ béo bò thịt

Vỗ béo bò trước khi giết thịt là rút ngắn thời gian nuôi để đạt tăng trọng cao nhất trong thời gian ngắn nhất nhằm nâng cao số lượng và chất lượng thịt. Trong giai đoạn này các cơ bắp, mô mỡ, mô liên kết phát triển mạnh nên cần nuôi dưỡng tốt và thức ăn phải giàu năng lượng (thức ăn tinh), giàu glucid (cỏ, rơm,..).

Để vỗ béo bò đạt hiệu quả cần phải nắm vững các yếu tố ảnh hưởng đến việc vỗ béo bò như sau:

– Giống: các giống khác nhau có tốc độ sinh trưởng, phát triển, tạo nạc và mỡ khác nhau. Trên bê đực lai hướng sữa thì mức tăng trọng bình quân của bê đạt từ 500 – 600 gram/con/ngày.

– Tuổi: tuổi giết mổ khác nhau sẽ cho chất lượng thịt khác nhau. Cụ thể như:

+ Dưới 1 năm tuổi: sự phát triển của cơ thể chủ yếu là kết quả của sự tích luỹ các mô cơ và xương, còn mỡ và mô liên kết tương đối thấp.

+ Đến 1,5 tuổi: sự tích luỹ mô cơ cao, còn mô xương tương đối thấp.

+ Sau 18 tháng tuổi: tốc độ sinh trưởng của tế bào cơ giảm xuống thấp, hàm lượng nước giảm, sự tích luỹ mỡ tăng lên, kèm theo là hàm lượng calori cũng tăng lên, còn mô liên kết giảm. Thời gian này do sự trao đổi chất thay đổi, làm giảm khả năng tích luỹ nitơ, cường độ hình thành protein giảm thấp và sự sinh trưởng của tế bào bị kìm hãm, đồng thời tốc độ tích lũy mỡ tăng lên. Cụ thể là khi sơ sinh thành phần protein là 18,25%; đến 18 tháng là 17,18%. Trong khi đó, mỡ tăng tương ứng là 3,64% lúc sơ sinh; 26,74% lúc 18 tháng tuổi. Nếu giết thịt lúc 18 tháng tuổi mỡ tích luỹ trong cơ bắp cao hơn mỡ nội tạng. Trong điều kiện chăn nuôi ở nước ta, vỗ béo bò ở giai đoạn 22 – 24 tháng tuổi là hiệu quả kinh tế nhất.

– Chăm sóc, nuôi dưỡng: sức sản xuất thịt của bê phụ thuộc trước hết vào mức độ dinh dưỡng. Mức dinh dưỡng cao sẽ đạt được khối lượng thịt gấp 2 lần so với mức độ dinh dưỡng thấp, thành phần thân thịt ở gia súc nuôi dưỡng kém đạt tỷ lệ xương và dây chằng tương ứng là 25 – 30% thân thịt, năng lượng của thịt giảm 40 – 45%. Thông thường, khẩu phần nhiều thức ăn thô thì tỷ lệ nội tạng cao, tỷ lệ thịt xẻ thấp; ngược lại, khẩu phần nhiều thức ăn tinh thì tỷ lệ thịt xẻ cao, tỷ lệ nội tạng thấp.

– Stress môi trường: Trong môi trường càng nóng ẩm thì việc thải nhiệt càng khó khăn. Do vậy, khi bò bị stress nhiệt sẽ làm hạn chế khả năng thu nhận thức ăn và năng suất giảm.

Trong điều kiện chăn nuôi gia đình, hiện nay có 3 cách vỗ béo bò thường được áp dụng như sau:

(1) Nuôi chăn thả có bổ sung thức ăn tại chuồng: bò cần được chăn thả 8 – 10 giờ/ngày ngoài bãi chăn để tận dụng được nhiều cỏ tươi mà không phải tốn công thu cắt cỏ và vận chuyển về chuồng. Sau khi chăn thả, bò được bổ sung thêm một ít thức ăn tinh và muối ăn.

Cách vỗ béo này thường áp dụng ở những nơi có diện tích đồng cỏ lớn và năng suất đồng cỏ tương đối khá mới đảm bảo mỗi ngày bò gặm được từ 20 – 25 kg cỏ. Tuy nhiên, để tăng năng suất đồng cỏ chăn thả thì đồng cỏ phải được cải tạo, diệt trừ cỏ dại, trồng cây bóng mát, giữ ẩm đất bằng cách tưới nước hay đắp đập ngăn nước để cỏ có năng suất cao.

Dành cho đàn bò vỗ béo ở những bãi cỏ gần nguồn nước, gần chuồng để chăn thả được nhiều giờ ngoài bãi. Nếu khoảng cách từ chuồng đến bãi chăn quá 2 km thì phải làm lán trại ngoài đồng cho bò ngủ qua đêm trong suốt thời gian chăn thả.

(2) Nuôi tại chuồng kết hợp với chăn thả: hình thức vỗ béo này thường áp dụng ở những hộ có diện tích đồng cỏ giới hạn, bò vừa gặm được một phần cỏ ngoài bãi chăn vừa được cung cấp thêm thức ăn tinh tại chuồng. Có thể bổ sung thêm phụ phẩm công nông nghiệp làm thức ăn vỗ béo cho bò như:

+ Bã mía, lá và ngọn mía: cho ăn tươi hoặc ủ chua, 2 – 3 kg/con/ngày

+ Vỏ và mắt dứa: ủ chua, 3 kg/con/ngày, khi ăn thường trộn với thức ăn tinh.

+ Hèm bia: 5 – 10 kg/con/ngày, kết hợp với cỏ họ đậu.

(3) Nuôi nhốt hoàn toàn: đây là phương thức nuôi thâm canh tại chuồng để giảm vận động, nhằm làm cho bò đạt mức tăng trọng nhanh trong thời gian ngắn để có tỷ lệ thịt xẻ cao, tạo ra các vân mỡ trong các sớ cơ nên phẩm chất thịt được nâng cao, giảm chi phí sản xuất đồng thời tăng hiệu quả chăn nuôi. Sau thời gian vỗ béo khối lượng cơ thể bò tăng từ 15 – 20% so với trước khi vỗ béo.

Những ngày đầu vỗ béo không cho bò ăn khẩu phần vỗ béo ngay, thời gian làm quen khẩu phần vỗ béo có thể kéo dài từ 2 – 3 tuần. Thức ăn của bò nuôi vỗ béo gồm cỏ tươi, rơm khô, thức ăn tinh (cám hỗn hợp, khoai lang, khoai mì, bắp). Tuần đầu tăng dần thức ăn tinh lên tối đa 1,5kg để tránh rối loạn tiêu hóa; Tuần thứ 2 tăng lên 3kg; Tuần thứ 3 tăng thức ăn tinh tối đa là 6 – 7kg; tiếp tục duy trì lượng thức ăn tinh này cho đến khi xuất thịt. Nên kích thích cho bò ăn càng nhiều càng tốt, cho vận động ít hoặc không cho vận động để bò tăng trọng nhanh, đạt khoảng 1,0 kg/con/ngày.

Lưu ý:

– Trước khi đưa vào vỗ béo bò, người chăn nuôi cần phải tẩy giun, sán cho bò bằng các loại thuốc như: levamisol, albendazole, biomectin,….

– Nước uống phải cung cấp thường xuyên và đầy đủ.

Hiện nay, trên thị trường đã có 1 sản phẩm có tác động tích cực đến việc nâng cao hiệu quả việc vỗ béo bò thịt đó là Microplex 1000, là sản phẩm đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT đưa vào danh mục thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu dùng chế biến thức ăn chăn nuôi, có tác dụng kích thích tăng trọng, giảm tiêu tốn thức ăn, tăng trọng lượng xuất thịt, tạo sản phẩm thịt đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

                                                                                nguồn: NN&PTNT

 

Nguyên tắc sát trùng vệ sinh thú y

Nguyên tắc, quy trình vệ sinh, sát trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôiCập nhật lúc:  17:05

Ảnh minh họa

Trong những năm gần đây, ở nước ta tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm diễn biến hết sức phức tạp, gây tổn thất rất lớn cho ngành chăn nuôi. Chăn nuôi an toàn sinh học rất quan trọng và bức thiết vì giúp khống chế dịch bệnh, tăng năng suất và hiệu quả chăn nuôi, làm cho chăn nuôi phát triển bền vững; chăn nuôi an toàn sinh học tạo ra sản phẩm chất lượng, vệ sinh đồng thời giúp bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường.

“Chăn nuôi an toàn sinh học” là việc áp dụng đồng bộ các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự tiếp xúc của vật nuôi với các mầm bệnh. Các mầm bệnh (các vi sinh vật gây bệnh) có rất nhiều trong môi trường. Chúng sống và phát triển mạnh trong những điều kiện nhất định về nhiệt độ và ẩm độ. Chúng cũng dễ dàng bị tiêu diệt khi gặp điều kiện bất lợi. Vì vậy, để hạn chế sự phát triển của mầm bệnh, đảm bảo “chăn nuôi an toàn” cần xây dựng chương trình vệ sinh, sát trùng chuồng nuôi và các dụng cụ chăn nuôi. Chương trình vệ sinh, sát trùng cần phải bao gồm tất cả các khu vực trong, ngoài chuồng nuôi kể cả khu vực bảo quản thức ăn và tất cả các dụng cụ chăn nuôi. Tần suất áp dụng tùy thuộc vào quy trình và phương thức chăn nuôi. Cần có sổ sách theo dõi ghi chép chương trình vệ sinh, sát trùng (thời gian, loại thuốc, nồng độ pha …).

1. Nguyên tắc vệ sinh, sát trùng:

– Phải luôn luôn làm sạch tất cả phân và các chất bẩn. Khi có phân là có vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt là Salmonella.
– Chỉ dùng thuốc sát trùng sau khi đã làm sạch bề mặt.
– Phải để khô hoàn toàn vì vi sinh vật gây bệnh không thể sống trong môi trường khô.

2. Quy trình vệ sinh, sát trùng:

Bước 1- Làm sạch chất hữu cơ trước khi rửa:
Hầu hết các thuốc sát trùng không có tác dụng diệt khuẩn nếu dụng cụ được sát trùng không sạch sẽ. Đất, rơm, trấu, sữa, máu, phân gây bất hoạt thuốc sát trùng. Trước khi rửa bằng nước cần dùng chổi, xẻng hoặc các dụng cụ thích hợp làm sạch các chất hữu cơ bám trên nền chuồng, tường chuồng, trên bề mặt các dụng cụ chăn nuôi…
Bước 2 – Rửa sạch bằng nước:
Sau khi vệ sinh cơ học các chất hữu cơ tiến hành rửa sạch bằng nước. Đối với dụng cụ, sàn, vách ngăn… bị chất bẩn bám chặt bề mặt lâu ngày, cần ngâm nước 1-3 ngày trước khi rửa. Đối với một số chỗ khó rửa (các góc, khe …), phải dùng vòi xịt áp suất cao bằng hơi.
Bước 3 – Tẩy bằng xà phòng, nước vôi hoặc thuốc tẩy:
Dùng nước xà phòng, nước vôi 30% hoặc thuốc tẩy rửa để phun, dội rửa lên nền hoặc ngâm các dụng cụ chăn nuôi.
Bước 4 – Sát trùng bằng thuốc sát trùng:
Dùng thuốc sát trùng với liều lượng phù hợp. Cần kiểm tra pH nguồn nước trước khi pha loãng. Không được dùng nước cứng để pha thuốc sát trùng vì sẽ làm giảm hoặc làm mất tác dụng của thuốc sát trùng. Dùng nước có nhiệt độ phù hợp để pha loãng thuốc
Lưu ý thời hạn dùng thuốc và thời hạn dùng dung dịch thuốc sát trùng đã pha loãng. Cần đảm bảo đủ thời gian cho thuốc tiếp xúc với dụng cụ được sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Khi phun thuốc sát trùng, phải mặc quần áo bảo hộ lao động.
Bước 5 – Để khô:
Sau khi khử trùng bằng thuốc, cần phải để khô dụng cụ và trang thiết bị. Với chuồng nuôi, thời gian để khô trước khi thả gia súc, gia cầm vào là 1-2 ngày, không được để khô dưới 12 giờ.

PQQ

 

Một số bệnh thường gặp ở lợn

Bệnh dịch tả heo khi nuôi heo thịt (Swine fever)

Đây là bệnh truyền nhiễm lây lan nguy hiểm ở heo do virus Pestivirus gây ra. Heo là vật chủ tự nhiên duy nhất của virus và do đó là nguồn lây nhiễm quan trọng. Heo bị nhiễm thường thải virus ra môi trường theo các chất bài tiết từ trước khi phát bệnh và kéo dài trong suốt thời gian heo ốm. Tiếp xúc trực tiếp với heo ốm là con đưòng lây nhiễm chính của bệnh dịch tả heo.

– Triệu chứng: Bệnh dịch tả Bệnh dịch tả heoheo có nhiều thể khác nhau như: thể quá cấp tính, thể cấp tính, thể á cấp tính, thể mãn tính. Mỗi thể bệnh có các triệu chứng khác nhau. Các triệu chứng thường gặp là: sốt cao (trên 41°C), con vật ủ rũ, nằm rúc chỗ tối, đi lại siêu vẹo, viêm kết mạc mắt (mắt có dử), bỏ ăn từ từ, có lúc ăn được ít, lúc bỏ bữa. Dần dần xuất hiện các điểm huyết điểm ở các vùng da bụng, bẹn, cổ, gốc tai, đôi khi có nôn mửa. Phân táo như phân dê, bên ngoài bọc màng nhầy màu trắng, sau có thể bị tiêu chảy. Heo ốm chết sau 7-9 ngày mắc bệnh.

– Bệnh tích:

+ Các hạch lymph xuất huyết;

+ Thận có xuất huyết điểm dưới màng thận (giống trứng gà tây);

+ Lách có xuất huyết hình răng cưa.

+ Phổi viêm ca ta.

+ Niêm mạc ruột viêm ca ta, xuất huyết điểm, đặc biệt ở van hồi manh tràng.

+ Da và niêm mạc có xuất huyết điểm, đặc biệt các vùng bụng, mặt trong đùi…

– Phòng bệnh:

Bệnh này không điều trị mà phòng bằng chủ yếu bằng vaccine: Tiêm vaccin dịch tả heo theo lịch tiêm phòng ở những ổ dịch cần huỷ heo chết theo qui trình vệ sinh thú y và tẩy uế chuồng trại rồi để trống chuồng ít nhất 3 tháng.

bệnh phó thương hàn heo

 

Bệnh phó thương hàn (Salmonellosis)

Đây là bệnh của heo con và choai từ 1- 4 tháng tuổi.

Bệnh thường xảy ra ở những nơi có chế độ vệ sinh kém, chuồng trại và thức ăn không đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh, nhất là thức ăn tự chế biến.

thức ăn cho heo

– Triệu chứng: Bệnh phó thương hàn có 3 thể: cấp tính, á cấp tính và mãn tính với các triệu chứng điển hình như sau:

+ Giảm ăn hoặc bỏ ăn;

+ Sốt cao 41°C-41,5°C, thậm chí 42°C;

+ Heo nằm rúc đầu vào ổ, run rẩy;

+ Viêm kết mạc mắt;

+ Rối loạn tiêu hoá: phân lúc táo, lúc lỏng màu đất sét lẫn bọt khí có khi lẫn máu, mùi rất khó chịu;

+ Da chỏm tai, dưới ngực, bụng bị tím do xuất huyết;

– Bệnh tích:

 

+ Niêm mạc ruột bị viêm và hoại tử, có màng giả, có một số vết loét nông;

+ Hạch màng treo ruột sưng, màu trắng xám, mềm, trên mặt cắt có vùng hoại tử;

Đọc thêm  Phòng và trị bệnh dịch tả heo

+ Gan có nhiều vùng hoại tử nhỏ (gan lốm đốm);

+ Lách sung huyết dai như cao su;

+ Phổi viêm dạng ca ta;

 Phòng trị:

+ Phòng bằng vaccine: Vaccine PTH keo phèn tiêm ở ngày tuổi 21 và 27 (Nếu dùng vaccine đông khô thì chỉ cần tiêm 1 lần duy nhất vào lúc 30 ngày tuổi);

+ Trị bệnh bằng các chế phẩm như Alamycin, Floxidin và các loại thuốc bổ trợ như vitamin B1,

Một số bệnh thường gặp trên đàn gia súc trong mùa mưa lũ và cách phòng trị

   xuất huyết và nhiễm khuẩn kế phát, gia súc đi ngoài phân nhày có lẫn máu và niêm mạc.

* Phòng bệnh:

– Định kỳ tiêu độc chuổng trại bãi chăn thả bằng các loại thuốc sát trùng.

– Định kỳ tẩy trừ giun sán ký sinh đường tiêu hóa bằng Vimectin và VimeFasci hoặc Hanmectin mỗi năm 2 lần cách nhau 6 tháng.

– Rửa sạch và hong khô thức ăn trước khi cho gia súc ăn, tập cho gia súc quen dần với thức ăn mới.

– Che chắn chuồng nuôi tránh rét, gió lùa và mưa tạt

* Điều trị:

  Vào mùa mưa ngành chăn nuôi gia súc bị ảnh hưởng rất nhiều do thiếu thức ăn và dịch bệnh, trong đó dịch bệnh là yếu tố gây thiệt hại lớn trên đàn gia súc. Để giảm thiệt hại cho đàn gia súc người chăn nuôi cần biết cách phòng chống các bệnh thường gặp trên gia súc trong mùa mưa như chướng hơi dạ cỏ ở loài nhai lại, hội chứng ỉa chảy, bệnh tụ huyết trùng, bệnh ký sinh trùng… 

HỘI CHỨNG ỈA CHẢY

* Nguyên nhân:

– Bệnh thường xảy ra vào mùa mưa ẩm làm bãi chăn, đồng cỏ, chuồng trại bị ô nhiễm tạo điều kiện cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, vi rút hay ký sinh trùng phát triển bám vào thức ăn và theo nguồn nước xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh.

– Do gia súc ăn thức ăn dính bẩn, ôi thiu, thức ăn quá nhiều đạm thay đổi thức ăn đột ngột dẫn đến rối loạn tiêu hóa gây ỉa chảy.

– Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng gặp nhiều ở gia súc non dưới 6 tháng tuổi do mẫn cảm với mầm bệnh và thay đổi đột ngột nhiệt độ môi trường chăn nuôi.

* Triệu chứng:

– Gia súc ăn ít hoặc bỏ ăn, không nhai lại, uống nhiều nước, sau đó ỉa lỏng, ban đầu phân chỉ là dịch màu xám xanh, xám vàng có mùi tanh, gia súc bệnh bị mất nước nhanh, da nhăn nheo.

– Trường hợp bệnh do gia súc bị ký sinh trùng làm tổn thương thành ruột gây

như: Piperazin, Tetramisol, menbendazon, Hanmectin theo hướng dẫn ghi trên nhãn thuốc.

+ Ỉa chảy do cầu trùng: Gặp ở gia súc non với triệu chứng ỉa chảy, con vật cong lưng rặn nhưng phân ra ít, phân lẫn máu và có dịch nhày phủ bề mặt. Điều trị bằng một trong số các loại thuốc sau: Cocizet Nitrofuran, phenolthiazin, sulfamerazin, sulfadimerazin với liều lượng và cách dùng ghi trên nhãn thuốc.

 

BỆNH CHƯỚNG HƠI DẠ CỎ Ở CÁC LOÀI NHAI LẠI (Trâu, bò, dê, cừu,…)

* Thời điểm mắc bệnh:

– Bệnh chướng hơi dạ cỏ của gia súc nhai lại là bệnh xảy ra quanh năm nhưng hay gặp nhất là vào mùa xuân v– Kiểm tra chất lượng thức ăn, nước uống sử dụng cho gia súc trước khi cho ăn

– Cách ly con vật bệnh, vệ sinh, che chắn chuồng trại giữ ấm cho gia súc.

– Cho uống dung dịch điện giải 1g/4 lít nước để bù nước và cân bằng chất điện giải. Nếu tiêu chảy nặng cần truyền nước sinh lý để chống mất nước.

– Dùng một trong các loại kháng sinh chống nhiễm khuẩn đường tiêu hóa như Oxytracyclin, colistin, kanamycin… tiêm cho gia súc với liệu trình từ 5 – 7 ngày với liều lượng theo hướng dẫn trên nhãn thuốc.

– Nếu tiêu chảy lẫn máu cần tiêm vitamin K với liều 1ml/20kg trọng lượng để cầm máu.

Trường hợp ở bê, nghé nếu điều trị bằng kháng sinh không có hiệu quả cần lưu ý đến các nguyên nhân gây ỉa chảy do Ký sinh trùng như giun đũa hay cầu trùng với triệu chứng nhận biết và cách điều trị như sau:

+ Ỉa chảy do giun đũa: Gia súc non có biểu hiện bụng căng, lông dựng, nằm im một chỗ, ban đầu đi ỉa phân lổn nhổn, phân từ màu đen, chuyển sang màu vàng xám sền sệt sau đó ngả màu trắng như xi măng lỏng, mùi tanh khẳm.

Điều trị bằng bằng cách cho uống hoặc tiêm các loại thuốc trị ký sinh trùng à mùa mưa.

– Bệnh xảy ra vào tháng 3-4 hoặc tháng 7-8 âm lịch. Bệnh thường ở thể cấp tính, diễn biến nhanh, nếu không điều trị đúng, kịp thời, gia súc sẽ chết rất nhanh.

* Nguyên nhân

– Do thức ăn: cỏ, thân lá cây non chứa nhiều nước, thức ăn bị dính nước mưa, thức ăn ôi thiu, lên men quá chua, nấm mốc, thức ăn chứa chất nhày sinh bọt khí, gia súc ăn quá nhiều các loại thức ăn tinh bột dễ lên men và sinh hơi (củ sắn, bột ngô …).

– Thay đổi nhiệt độ đột ngột dẫn đến rối loạn tiêu hóa do loạn khuẩn đường tiêu hóa (Trời đang nắng nóng, đột ngột mưa lạnh kéo dài)

* Triệu chứng lâm sàng (Dấu hiệu nhận biết bệnh)

– Ban đầu gia súc kém ăn, bỏ ăn, không nhai lại, đứng choãi chân ra phía trước, sùi bọt mép, miệng ngáp ợ hơi liên tục.

– Các triệu chứng tiếp theo như bụng căng, lõm hông bên trái căng phồng, gõ tay vào nghe thấy tiếng kêu rõ, con vật có hiện tượng khó thở do phổi bị chèn ép, lỗ mũi mở to.

– Các triệu chứng trên xảy ra kế tiếp nhau và rất nhanh trong khoảng vài giờ, nếu không điều trị kịp thời con vật có thể chết do ngạt thở.

* Cách phòng và trị bệnh.

* Phòng bệnh:

– Trong mùa mưa cần chú ý tránh để thức ăn thô xanh dính nước, thức ăn thu hái gặp mưa cần hong khô trước khi cho gia súc ăn, nếu thức ăn quá non cần bổ sung rơm khô, cỏ khô để giảm nước trong thức ăn.

– Không cho ăn quá nhiều thức ăn tinh, thức ăn giàu đạm, thức ăn chứa chất nhày dễ lên men sinh hơi.

– Không nên chăn thả gia súc khi trời mưa.

* Trị bệnh:

Bước 1: Khi thấy gia súc có dấu hiệu nêu ở trên cần để gia súc nghỉ ngơi ở nơi yên tĩnh, thoáng mát, nơi có nền dốc, để gia súc đứng đầu quay lên dốc tạo điều kiện giúp gia súc dễ thở.

Bước 2: Dùng rơm khô hoặc bọc dẻ chứa muối rang nóng, hay gừng trộn rượu chà sát, xoa bên ngoài vùng dạ cỏ theo chiều kim đồng hồ nhằm kích thích nhu động dạ cỏ

Bước 3: Cho uống ngay một trong các loại dung dịch sau

–    Dung dịch thuốc tím: 1gr/1 lít nước, uống 3 – 5 lít.

–    Nước dưa chua: 3- 5 lít.

–    Bia hơi: 3 – 5 lít.

–    Có thể sử dụng bài thuốc nam sau để điều trị cho gia súc: Tỏi 50-100 gam, lá trầu không 200 gam, gừng 100 gam, phèn chua 10 gam, dọc khoai nước 500 gam, muối ăn (NaCl) 30-50 gam. Giã nhỏ hoà 1-2 lít nước, vắt kiệt, bỏ bã, cho uống để chống lên men sinh hơi.

Bước 4: Dùng tay thuận kéo lưỡi gia súc ra, tay còn lại sát gừng đã được giã nhỏ lên lưỡi để kích thích cơ thực quản co bóp đẩy hơi ra ngoài.

Bước 5: Sau khi thực hiện các việc trên nếu không thuyên giảm cần báo ngay cho cán bộ thú y đến điều trị kịp thời.

BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG

* Nguyên nhân và cách truyền lan do bệnh

– Bệnh do vi khuẩn Pasteurella multocida gây ra, nguồn lây bệnh từ thức ăn, nước uống hay từ chất thải của động vật ốm sang động vật khỏe.

– Bênh cũng có thể phát sinh do vi khuẩn có sẵn trong đường tiêu hóa hoặc hô hấp của gia súc khi thời tiết thay đổi đột ngột, gia súc ốm yếu giảm sức đề kháng tạo điều kiện cho vi khuẩn Tụ huyết trùng phát triển và gây bệnh.

– Ở nước ta bệnh xảy ra rải rác quanh năm và ở tất cả các vùng, nhưng phát mạnh nhất vào mùa mưa lũ do vi khuẩn lây lan theo nước và bám vào thức ăn.

* Triệu chứng.

Bệnh thường ở thể cấp tính đối với trâu bò, thời gian ủ bệnh chỉ 1-3 ngày, con vật có biểu hiện như sau:

 – Không nhai lại, mệt nhọc, sốt cao đột ngột 40- 42o C; nước mắt, mũi chảy liên tục; niêm mạc mắt, mồm, mũi, tổ chức dưới da có tụ huyết đỏ sẫm; tối xám.

– Hầu sưng to, gia súc phải lè lưỡi ra để thở, động tác thở rất mạnh, thường gọi là “bệnh trâu bò hai lưỡi”, gia súc đi lại khó khăn do sưng thùy hạch lâm ba vai, đùi.

– Một số gia súc bị thể đường ruột thì xuất hiện các triệu chứng ỉa chảy dữ dội, phân lẫn máu và tế bào ruột bong tróc.

– Lúc gần chết, trâu bò bệnh nằm liệt, đái ra máu, thở rất khó, xuất huyết ở các niêm mạc mắt, mũi. Diễn biến bệnh trong 3 ngày-5 ngày, chết đến 90-100%, nếu nhiễm trùng máu chết nhanh hơn trong 1-1,5 ngày.

Nếu bệnh ác tính hay còn gọi là thể quá cấp tính thì đột nhiên bò sốt cao đến 42oC, hung dữ, điên cuồng, đập đầu vào thành chuồng, chết nhanh trong 24 giờ.

Gia súc bệnh không chết sẽ chuyển ra mãn tính, ruột viêm lúc ỉa chảy, lúc táo bón, viêm khớp, viêm phế quản và phổi mãn tính. Trong vài tuần, gia súc có thể khỏi bệnh nhưng thường gầy rạc.

* Phòng và trị bệnh

– Hàng năm, cần tiêm vacxin tụ huyết trùng 6 tháng một lần và tiêm trước mùa mưa lũ bằng một trong các loại vacxin sau:

+ Vacxin pha formol và keo phèn tiêm 3-5ml/lần, sau 5 ngày có miễn dịch, miễm dịch kéo dài trong 6 tháng.

+ Vacxin nhũ hóa, liều tiêm 5ml, miễn dịch sau 7-10 ngày miễm dịch kéo dài 6-8 tháng.

+ Vacxin nhược độc, tiêm 1-2ml, miễn dịch sau 7 ngày, kéo dài 4-6 tháng.

– Chuẩn bị đầy đủ thức ăn cho gia súc trước mùa mưa lũ, chăm sóc nuôi dưỡng gia súc tốt đảm bảo sức đề kháng với bệnh.

 

Nguồn: NN&PTNT

Một số điểm cần lưu ý trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái

Quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái ở nông hộ, bà con cần lưu ý một số điểm sau đây: 

     – Lợn nái chửa nuôi theo 2 giai đoạn: giai đoạn I (84 ngày chửa đầu) khối lượng bào thai đạt khoảng 25-30%; giai đoạn II (khoảng 30 ngày chửa cuối) bào thai phát triển nhanh, chiếm khoảng 65-70% khối lượng lợn con sơ sinh. Vì vậy để lợn con đạt khối lượng sơ sinh cao cần tăng khoảng 25-30% lượng thức ăn cho lợn nái chửa kỳ II, mức tăng tuỳ thuộc vào thể trạng béo hay gầy của lợn nái.

     – Trong thời kỳ mang thai, lợn nái cần lượng chất khoáng nhiều hơn để phát triển hệ xương của bào thai. Khi khẩu phần ăn của lợn mẹ không đủ, sẽ phải huy động nhiều chất khoáng từ cơ thể lợn mẹ (đặc biệt là canxi và phốt pho từ xương) để nuôi thai. Vì thế, lợn mẹ bị thiếu chất khoáng và dễ dẫn tới bại liệt.

     – Bã rượu và thức ăn ủ men có chứa chất kích thích, dễ gây sảy thai. Vì vậy chỉ nên cho lợn ăn dưới 15% trong khẩu phần.

     – Đối với lợn nái chửa khi tiêm phòng vắcxin phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của bào thai và chủng loại vắcxin. Vì vậy, khi tiêm phòng cho lợn nên thực hiện theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắcxin và cán bộ thú y. Chú ý không nên tiêm các loại vắcxin sống (vắc xin nhược độc) cho lợn nái chửa vì dễ gây ảnh hưởng đến thai.

     – Những biểu hiện của lợn nái sắp đẻ: lợn nái sắp đẻ thường đi lại nhiều, đái dắt, cào ổ, âm hộ nở to và tiết dịch nhờn màu hồng, vú có thể chảy sữa.

     – Cần chuẩn bị cho lợn nái đẻ: vệ sinh chuồng nuôi và lợn nái; chuẩn bị ô úm, lót chuồng và dụng cụ đỡ đẻ (vải xô mềm, cồn i-ốt, bông, kéo, panh, chỉ buộc rốn, kìm bấm nanh…)

     – Những biểu hiện lợn đẻ khó: lợn nái co chân rặn nhiều, nước ối ra mà con không ra; quá 1 tiếng vẫn chưa đẻ con tiếp theo; lợn mẹ rặn đẻ yếu.

     – Những biện pháp xử lý khi lợn đẻ khó:

        + Không vội vàng sử dụng ngay thuốc kích thích đẻ (oxi-tô-xin)

       + Kiểm tra ngôi thai: chụm thẳng 5 đầu ngón tay, nhẹ nhàng đưa vào qua âm đạo theo nhịp rặn đẻ của lợn nái. Dùng các đầu ngón tay lần tìm lợn con để xác định thai thuận ngôi hay không (chú ý phải cắt ngắn móng tay, rửa tay bằng xà phòng, sau đó thoa nhẹ lên tay một ít vadơlin hoặc dầu ăn).

       + Nếu là thai không thuận ngôi thì phải chỉnh theo hướng thai thuận rồi mới từ từ lôi ra theo nhịp rặn đẻ của lợn mẹ

        + Nếu là thai to thì lúc đó mới tiêm thuốc oxytocin (oxi-tô-xin) và thuốc trợ lực cho lợn nái (liều sử dụng theo chỉ dẫn của nhà sản xuất) kết hợp nhẹ nhàng lôi lợn con ra theo nhịp rặn đẻ của lợn mẹ.

        + Nên mời cán bộ thú y trợ giúp khi xác định là lợn nái đẻ khó.

     – Khi lợn đẻ bọc phải xé bọc ngay, khẩn trương lấy dịch ở miệng và mũi của lợn con, dùng vải xô, vải mềm, giấy vệ sinh lau sạch lỗ mũi lợn. Lợn con bị ngạt phải thổi hơi ngay vào mồm lợn. Nếu lợn con chưa tỉnh thì ngâm lợn chìm trong nước ấm (30-350C) khoảng 5-10 phút rồi hô hấp nhân tạo.

Theo TTKNQG

 

Tập cho lợn con ăn sớm


Thường mỗi năm lợn nái có thể sinh sản 2 lứa. Muốn đạt được hiệu quả này, phải thực hiện biện pháp cai sữa cho lợn con sớm, sau 40-50 ngày tuổi. Cai sữa muộn, lợn con lớn không đều, ảnh hưởng đến thời gian sinh sản lứa sau của lợn mẹ. Lợn mẹ sau khi đẻ, sữa tiết ra tăng dần và cao nhất là tuần thứ 3 (sau đẻ 14-21 ngày). 

Sang tuần thứ 4 trở đi sữa giảm dần, ngược lại lợn con đã tăng trọng gấp 3-4 lần, nên đòi hỏi dinh dưỡng càng nhiều. Vì vậy, sau tuần thứ 3, lợn con chỉ bú sữa mẹ không thì chưa đủ lượng và chất nên phát triển chậm lại, lợn mẹ bị con bú nhiều thể trọng giảm sút.

Vì vậy, từ sau 21 ngày nên tập cho lợn con ăn. Thức ăn của lợn con cần đủ chất bột, chất đạm, sinh tố và vi lượng. Chủ yếu vẫn là bột gạo, bột ngô, cám, bột sắn, cá nhạt, đậu tương rang, bã rượu… Những ngày đầu tập cho ăn phải dùng que quấn bông hoặc vải bôi cháo loãng có đường vào vú mẹ để lợn con bú thì mút luôn, sau đó có thể ngăn lợn nái riêng để cho con tập ăn. Cũng có thể cho lợn nhỏ đã biết ăn ở máng để lợn con bắt chước. Những dụng cụ tập cho lợn ăn phải sạch sẽ, thức ăn không để ôi thiu sẽ làm cho lợn con bị ỉa chảy. Chỉ tập 3-4 ngày, lợn con đã biết ăn ở máng, tập cho lợn con tách mẹ và chỉ nên tách ban ngày. Ngày đầu nên tách từ 7 giờ sáng đến 10 giờ trưa, ngày thứ 2 tách lâu thêm nửa tiếng hoặc hơn tuỳ theo thời gian tập cai sữa. Nếu tập cho ăn trong 20 ngày, mỗi ngày tách thêm nửa giờ. Ngày cai sữa cuối cùng cũng chỉ nên tách mẹ từ khoảng 7 giờ đến 17-18 giờ. Trước ngày cai sữa hoàn toàn chỉ cho lợn mẹ, lợn con ăn nửa suất. Đến ngày tách con cai sữa, cho lợn con ăn từ từ, không cho ăn no. Sau khi cai sữa, tách con ra nuôi tiếp đến 60-90 ngày tuổi. Lúc này, lợn con lớn nhanh, ngày tách con cho lợn mẹ nhịn ăn 24 giờ để lợn mẹ ngừng tiết sữa.

Theo: TTKNQG

Nguyên tắc, quy trình vệ sinh, sát trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi


Trong những năm gần đây, ở nước ta tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm diễn biến hết sức phức tạp, gây tổn thất rất lớn cho ngành chăn nuôi. Chăn nuôi an toàn sinh học rất quan trọng và bức thiết vì giúp khống chế dịch bệnh, tăng năng suất và hiệu quả chăn nuôi, làm cho chăn nuôi phát triển bền vững; chăn nuôi an toàn sinh học tạo ra sản phẩm chất lượng, vệ sinh đồng thời giúp bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường. 

“Chăn nuôi an toàn sinh học” là việc áp dụng đồng bộ các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự tiếp xúc của vật nuôi với các mầm bệnh. Các mầm bệnh (các vi sinh vật gây bệnh) có rất nhiều trong môi trường. Chúng sống và phát triển mạnh trong những điều kiện nhất định về nhiệt độ và ẩm độ. Chúng cũng dễ dàng bị tiêu diệt khi gặp điều kiện bất lợi. Vì vậy, để hạn chế sự phát triển của mầm bệnh, đảm bảo “chăn nuôi an toàn” cần xây dựng chương trình vệ sinh, sát trùng chuồng nuôi và các dụng cụ chăn nuôi. Chương trình vệ sinh, sát trùng cần phải bao gồm tất cả các khu vực trong, ngoài chuồng nuôi kể cả khu vực bảo quản thức ăn và tất cả các dụng cụ chăn nuôi. Tần suất áp dụng tùy thuộc vào quy trình và phương thức chăn nuôi. Cần có sổ sách theo dõi ghi chép chương trình vệ sinh, sát trùng (thời gian, loại thuốc, nồng độ pha …).

1. Nguyên tắc vệ sinh, sát trùng:

– Phải luôn luôn làm sạch tất cả phân và các chất bẩn. Khi có phân là có vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt là Salmonella.
– Chỉ dùng thuốc sát trùng sau khi đã làm sạch bề mặt.
– Phải để khô hoàn toàn vì vi sinh vật gây bệnh không thể sống trong môi trường khô.

2. Quy trình vệ sinh, sát trùng:

Bước 1- Làm sạch chất hữu cơ trước khi rửa:
Hầu hết các thuốc sát trùng không có tác dụng diệt khuẩn nếu dụng cụ được sát trùng không sạch sẽ. Đất, rơm, trấu, sữa, máu, phân gây bất hoạt thuốc sát trùng. Trước khi rửa bằng nước cần dùng chổi, xẻng hoặc các dụng cụ thích hợp làm sạch các chất hữu cơ bám trên nền chuồng, tường chuồng, trên bề mặt các dụng cụ chăn nuôi…
Bước 2 – Rửa sạch bằng nước: 
Sau khi vệ sinh cơ học các chất hữu cơ tiến hành rửa sạch bằng nước. Đối với dụng cụ, sàn, vách ngăn… bị chất bẩn bám chặt bề mặt lâu ngày, cần ngâm nước 1-3 ngày trước khi rửa. Đối với một số chỗ khó rửa (các góc, khe …), phải dùng vòi xịt áp suất cao bằng hơi.
Bước 3 – Tẩy bằng xà phòng, nước vôi hoặc thuốc tẩy: 
Dùng nước xà phòng, nước vôi 30% hoặc thuốc tẩy rửa để phun, dội rửa lên nền hoặc ngâm các dụng cụ chăn nuôi.
Bước 4 – Sát trùng bằng thuốc sát trùng: 
Dùng thuốc sát trùng với liều lượng phù hợp. Cần kiểm tra pH nguồn nước trước khi pha loãng. Không được dùng nước cứng để pha thuốc sát trùng vì sẽ làm giảm hoặc làm mất tác dụng của thuốc sát trùng. Dùng nước có nhiệt độ phù hợp để pha loãng thuốc
Lưu ý thời hạn dùng thuốc và thời hạn dùng dung dịch thuốc sát trùng đã pha loãng. Cần đảm bảo đủ thời gian cho thuốc tiếp xúc với dụng cụ được sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Khi phun thuốc sát trùng, phải mặc quần áo bảo hộ lao động.
Bước 5 – Để khô: 
Sau khi khử trùng bằng thuốc, cần phải để khô dụng cụ và trang thiết bị. Với chuồng nuôi, thời gian để khô trước khi thả gia súc, gia cầm vào là 1-2 ngày, không được để khô dưới 12 giờ.

Theo: TTKNQG

Chẩn đoán bệnh bằng dịch miệng ở heo

 Giải pháp mới trong việc theo dõi và giám sát bệnh ở heo
 

Trong chăn nuôi heo (lợn) hiện nay, việc theo dõi bệnh là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết vì nó giúp các trang trại giám sát tốt tình hình dịch tễ của bệnh, cung cấp công cụ để đưa ra quyết định đúng đắn nhằm khống chế nhiều bệnh như bệnh PRRS, Mycoplasma hyopneumoniae (M.hyo), Cúm A (IAV)…

 Chẩn đoán bệnh heo dùng dịch miệng là một giải pháp dễ dàng, đơn giản, hiệu quả, bền vững và không gây stress cho heo trong chăn nuôi heo hiện nay được trình bày bởi TS. Lucy Du thuộc phòng thí nghiệm IDEXX tại Hội thảo bệnh ở heo được tổ chức vào ngày 20 tháng 3 năm 2014 do Hội chăn nuôi Việt nam, Hội thú y Việt Nam và Hiệp hội các nhà sản xuất Heo Hoa Kỳ ( NPPC) đồng tổ chức.

 

Dịch miệng của heo bao gồm nước bọt và dịch tiết niêm mạc, đây là nguồn cung cấp kháng nguyên và kháng thể rất tốt. Chất phân tích để xác định mầm bệnh trong nước dịch miệng heo đã được Prickett&Zimmerman thống kê năm 2010. Thí dụ Mầm bệnh là Bordetella pertussis; Coronavirus; Cytomegalovirus; dengue virus; Ebola virus… thì chất phân tích trong dịch miệng heo tương ứng là IgG; virus(PCR); IgG,IgA; IgG,IgM và IgG, PCR. Việc lấy dịch miệng hàng ngày, liên tục dùng giúp để theo dõi sự hiện diện của mầm bệnh; theo dõi kết quả tiêm phòng hay phơi nhiễm có điều kiện; theo dõi dịch bệnh địa phương và biến động kháng thể, từ đó cho phép quản lý hay người chăn nuôi ra quyết định kịp thời về sức khỏe đàn heo của mình. Nên lấy dịch miệng heo vào buổi sáng vì đây là thời gian heo hoạt động mạnh trong ngày bằng cách dùng dây chão sợi bông, điều chỉnh đầu dây cao ngang vai heo, sau đó chiết xuất nước dịch miệng từ dây chão, cho dịch miệng vào ống nghiệm, đánh dấu và để lạnh hay cấp đông và gởi đến phòng thí nghiệm để phân tích.

 

Nguyễn Văn Bắc – TTKNQG

Bảo quản và sử dụng vắc xin trong chăn nuôi

 
Dich vu thu y

Trong những năm gần đây do chăn nuôi ngày càng phát triển, môi trường càng trở nên ô nhiễm, sự vận chuyển vật nuôi giữa các vùng, các quốc gia (không kiểm dịch hoặc kiểm dịch không đầy đủ) … dẫn đến dịch bệnh xảy ra ngày càng nhiều và phức tạp, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi. 

Do đó, công tác quản lý dịch bệnh cho đàn vật nuôi trở nên rất quan trọng, quyết định tới hiệu quả chăn nuôi. Sử dụng vắc xin để chủ động phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi được xem là một trong những biện pháp hiệu quả và ít tốn kém hơn cho người chăn nuôi. 

Vắc xin là chế phẩm sinh học chứa các mầm bệnh đã bị làm yếu hay làm chết đi (không còn khả năng gây bệnh). Sau khi tiêm vào cơ thể chế phẩm này mới kích thích cơ thể sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại mầm bệnh (còn gọi là miễn dịch).

 Mỗi loại vắc xin đều có những đặc thù riêng, hiệu quả và thời gian miễn dịch phụ thuộc rất nhiều vào người sử dụng vắc xin. Nếu quản lý và sử dụng đúng quy trình kỹ thuật sẽ đảm bảo thời gian miễn dịch kéo dài và an toàn, ngược lại sẽ làm giảm khả năng tạo miễn dịch của vắc xin. Do đó, khi sử dụng vắc xin người chăn nuôi cần lưu ý một số vấn đề sau: 

1. Bảo quản vắc xin 

– Vắc xin phải được bảo quản ở nhiệt độ thích hợp: < 0 độ C (đối với vắc xin sống), từ 2 – 8 độ C (đối với vắc xin chết); nên sử dụng riêng tủ bảo quản vắc xin, vệ sinh sát trùng định kỳ tủ nhằm đảm bảo vô trùng. 

– Khi vận chuyển, cần giữ vắc xin trong điều kiện râm mát, tránh ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp. Nếu vận chuyển xa nên có hộp xốp, phích đá để bảo quản, nếu gần thì bảo quản bằng túi nilông tối màu và đá giữ lạnh. 

– Ghi chép việc xuất nhập kho từng loại vắc xin, số lượng, thời hạn sử dụng để sử dụng đúng hạn, tránh lãng phí.

 

Tủ lạnh bảo quản vắc xin 

2. Sử dụng vắc xin 

Khi dùng vắc xin cần phải thực hiện theo đúng những nguyên tắc sau: 

– Đối tượng cần phòng bệnh

 + Thực hiện phòng bệnh hàng năm đối với những vùng có ổ dịch cũ, vùng có nhiều bệnh truyền nhiễm phát sinh theo mùa. 

+ Những nơi chưa có dịch chỉ nên dùng vắc xin chết. 

+ Nên phòng bệnh cho vật nuôi 15 – 20 ngày trước khi vận chuyển đi xa và sau 20 – 30 ngày trong trường hợp nhập vật nuôi từ nơi khác về. 

+ Vắc xin phòng bệnh nào thì chỉ phòng được loại bệnh đó, không phòng được bệnh khác. 

– Hiệu lực của vắc xin 

Tình trạng sức khỏe của vật nuôi, điều kiện ngoại cảnh sẽ ảnh hưởng tới hiệu lực của vắc xin. Chỉ sử dụng vắc xin khi vật nuôi khỏe mạnh. 

– Thời gian có tác dụng của vắc xin 

Tùy loại vắc xin, thời gian cơ thể sẽ tạo được miễn dịch sau khi dùng vắc xin là khác nhau. Trong thời gian đầu, vật nuôi chưa có miễn dịch đầy đủ nên vẫn có thể mắc bệnh và phát bệnh. 

– Liều sử dụng 

Cần sử dụng liều lượng vắc xin đúng theo chỉ định của nhà sản xuất. 

– Số lần dùng 

Tuỳ loại vắc xin, động vật cảm nhiễm và tình hình dịch tễ mà số lần sử dụng khác nhau, có loại chỉ dùng 1 lần đã đủ miễn dịch cho con vật, một số vắc xin cần dùng nhắc lại hai hoặc nhiều lần (theo hướng dẫn sử dụng).

 – Kiểm tra lọ vắc xin trước khi sử dụng 

+ Thông tin trên nhãn: tên vắc xin, số lô, số liều sử dụng, ngày sản xuất, số kiểm nghiệm xuất xưởng, thời hạn sử dụng, quy cách bảo quản.

 + Những hư hỏng trong lọ vắc xin: nút chặt hay lỏng, nguyên vẹn hay bị rách, tình trạng lớp sáp phủ bên ngoài, lọ thủy tinh có bị rạn nứt không. 

+ Tình trạng vắc xin trong lọ: màu sắc, kết cấu, có bị vón không, có vật lạ không, độ đồng nhất (nếu khi lắc lọ vắc xin vẫn chia thành 2 lớp là đã bị hư hỏng). 

– Thao tác khi sử dụng vắc xin 

+ Khử trùng các dụng cụ dùng để đựng, pha chế vắc xin bằng cách hấp hoặc luộc, sau đó rửa bằng nước sạch (nước sôi để nguội). Không được rửa bằng thuốc sát trùng.

 + Sát trùng bằng cồn 700: tay người thực hiện, vùng da được tiêm, nút cao su của lọ chứa vắc xin. 

+ Trong lúc tiêm phòng cần tránh ánh nắng mặt trời.

 3. Những vấn đề cần lưu ý khi sử dụng vắc xin 

a. Đường đưa vắc xin 

– Tiêm dưới da: vắc xin Newcatle, vắc xin dịch tả vịt, vắc xin tụ huyết trùng keo phèn…

 – Tiêm bắp thịt: vắc xin được tiêm vào trong cơ thường được hấp thu vào trong máu nhanh hơn so với tiêm dưới da. Để tránh trào thuốc ra ngoài từ vị trí tiêm, nên kéo da qua một bên trước khi đâm kim. Gia súc thường tiêm bắp thịt ở đùi, gia cầm là sau gáy, vị trí 1/3 giáp thân; cơ cánh, cơ ức. 

– Phun sương, nhỏ mắt, mũi, miệng: vắc xin Laxota, Gumboro, IB,… 

– Chủng màng da: vắc xin đậu.

 b. Phản ứng sau khi dùng vắc xin 

– Sau khi dùng vắc xin, vật nuôi có thể bị phản ứng do: các chất phụ trợ trong vắc xin, cơ thể đang ủ bệnh… Phản ứng cục bộ tại chỗ tiêm là sưng, nóng, đau… nhưng sau một thời gian phản ứng này sẽ mất. Khi có phản ứng cục bộ cần xử lý bằng cách chườm nước nóng tại vị trí tiêm. Trường hợp nơi tiêm bị nhiễm trùng gây apxe mủ thì phải điều trị bằng kháng sinh. 

– Tiêm vắc xin còn có thể gây phản ứng dị ứng, vật nuôi có biểu hiện: sốt, run rẩy, nôn mửa, thở gấp, nổi mẩn trên mặt da (thường gặp ở lợn). Nếu phản ứng nhẹ thì sau một thời gian sẽ hết, nếu phản ứng ở mức độ nặng thì vật nuôi có thể bị chết. Khi có hiện tượng dị ứng nên sử dụng các loại thuốc chống Histamin như: Dimadron, Epharin, Phenergan, Adrenalin.

 c. Xử lý vắc xin thừa

 Sau khi dùng vắc xin nhược độc cho vật nuôi, tất cả vắc xin thừa cần tập trung lại và tiêu hủy (dùng nhiệt hoặc hóa chất), các dụng cụ tiêm hoặc nhỏ vắc xin phải rửa sạch và sát trùng ngay. 

d. Sổ ghi chép 

Phải có sổ theo dõi: ghi chép đầy đủ ngày dùng, tên, số lô, trạng thái và hạn sử dụng của vắc xin; tình trạng sức khoẻ của vật nuôi trước và sau khi sử dụng vắc xin. 

TS Nguyễn Thị Liên Hương – TTKNQG

(Theo Thông tin KNVN)